• **VietWriter – 10/09/2015 → 30/09/2026** Có lẽ đây là bài viết khó nhất tôi từng viết trên VietWriter. Không phải vì tôi không biết phải viết gì. Mà vì tôi biết, sau những dòng này, sẽ không còn bài viết nào nữa. Ngày **10/09/2015**, VietWriter bắt đầu. Khi ấy, tôi chỉ nghĩ đơn giản rằng mình muốn tạo ra một nơi để mọi người có thể viết, có thể chia sẻ, có thể gặp những người cũng yêu con chữ giống mình. Tôi không nghĩ nơi này sẽ đi cùng mình lâu đến vậy. Hơn 11 năm. Một khoảng thời gian đủ dài để một người thay đổi rất nhiều. Đủ dài để những người từng là học sinh trở thành người đi làm. Đủ dài để những người từng có rất nhiều thời gian viết lách giờ phải bận rộn với gia đình, công việc, con cái và cuộc sống riêng. Đủ dài để những nickname từng xuất hiện mỗi ngày dần trở thành những cái tên đã lâu không còn sáng đèn. Và cũng đủ dài để một diễn đàn từng đông vui trở nên ngày càng yên tĩnh. Từ **vietwriter.com** đến **vietwriter.one**, VietWriter đã đi qua rất nhiều lần thay đổi. Có lúc đông vui. Có lúc im ắng. Có lúc tôi từng nghĩ sẽ làm lại thật lớn. Có lúc tôi nghĩ chỉ cần giữ nó ở đó thôi cũng được. Không cần phát triển thêm. Không cần ai biết đến. Chỉ cần nó vẫn còn. Bởi đôi khi, chúng ta giữ một website không phải vì nó còn giá trị về lượt truy cập, về tiền bạc hay về công nghệ. Chúng ta giữ nó đơn giản vì ở đó có ký ức. Có những đêm thức khuya sửa lỗi diễn đàn. Có những lần chuyển server, backup dữ liệu, sửa từng thứ rất nhỏ. Có những bài viết mà giờ đọc lại thấy ngây ngô. Có những cuộc trò chuyện tưởng như chẳng có gì đặc biệt, nhưng nhiều năm sau nhìn lại mới nhận ra đó chính là tuổi trẻ. Có những người từng rất thân. Rồi không còn nói chuyện nữa. Có những người từng nói rằng sẽ ở VietWriter thật lâu. Rồi một ngày cũng biến mất. Không trách ai cả. Vì cuộc sống vốn là như vậy. Mỗi người rồi cũng phải bước tiếp trên con đường của riêng mình. Chỉ có diễn đàn là vẫn nằm ở đây. Âm thầm giữ lại dấu vết của tất cả mọi người. Từng bài viết. Từng bình luận. Từng tài khoản. Từng ngày tháng mà có lẽ chính người viết cũng đã quên. Và rồi hôm nay, đến lượt tôi phải là người kết thúc nó. Tôi đã nhiều lần mở trang quản trị lên. Nhìn những dữ liệu đã nằm ở đó suốt hơn một thập kỷ. Và thật lòng, tôi không nỡ xóa. Một cái database có thể chỉ là vài gigabyte dữ liệu. Một tên miền có thể chỉ là vài dòng DNS. Một diễn đàn có thể chỉ là code, server và những bảng dữ liệu. Nhưng tôi biết rằng trong đó có hơn 11 năm của VietWriter. Và cũng có hơn 11 năm của chính tôi. Có lẽ điều buồn nhất khi đóng một diễn đàn không phải là website biến mất. Mà là khoảnh khắc mình nhận ra: **một thời của mình thật sự đã đi qua.** Ngày **30/09/2026**, tôi sẽ tắt VietWriter. Sau ngày đó, có thể khi bạn gõ lại địa chỉ quen thuộc, sẽ chẳng còn gì xuất hiện nữa. Không còn trang chủ. Không còn những bài viết cũ. Không còn những nickname từng quen. Không còn dòng chữ báo rằng có ai đó đang online. Chỉ còn một cái tên từng tồn tại trên Internet. Nhưng trước khi mọi thứ biến mất, tôi muốn nói một lời mà có lẽ suốt hơn 11 năm qua tôi chưa từng nói đủ: **Cảm ơn.** Cảm ơn tất cả những người đã từng bước vào VietWriter. Dù bạn ở đây nhiều năm, vài tháng, vài ngày hay chỉ vô tình ghé qua một lần. Cảm ơn những người từng đăng bài. Cảm ơn những người từng viết truyện. Cảm ơn những người từng bình luận. Cảm ơn những người từng cãi nhau rồi lại làm hòa. Cảm ơn những người từng giúp VietWriter vui hơn, đông hơn, có sức sống hơn. Và đặc biệt, cảm ơn những người dù đã đi rất lâu nhưng đã từng để lại một phần tuổi trẻ của mình ở đây. Tôi không biết mọi người bây giờ đang ở đâu. Đang sống thế nào. Có còn viết nữa hay không. Có còn nhớ VietWriter hay không. Nhưng nếu một ngày nào đó bạn tình cờ nhớ lại cái tên này, tôi hy vọng bạn sẽ nhớ về nó bằng một chút dịu dàng. Rằng đã từng có một nơi như vậy. Một diễn đàn nhỏ. Một góc nhỏ của Internet. Nơi một nhóm người từng gặp nhau chỉ vì cùng thích viết. Chúng ta đã từng ở đây. Thật sự đã từng ở đây. Và như thế là đủ. Ngày **10/09/2015**, VietWriter bắt đầu bằng một cú click. Ngày **30/09/2026**, VietWriter cũng sẽ kết thúc bằng một cú click. Chỉ khác rằng lần đầu tiên tôi nhấn nút với rất nhiều háo hức. Còn lần cuối cùng… có lẽ tôi sẽ ngồi nhìn màn hình lâu hơn một chút. Trước khi nhấn **Delete**. **Tạm biệt VietWriter.** Tạm biệt **vietwriter.com**. Tạm biệt **vietwriter.one**. Tạm biệt một phần tuổi trẻ của chúng ta. **10/09/2015 — 30/09/2026** Cảm ơn vì tất cả. Và nếu ký ức cũng có một nơi để đăng nhập lại, hy vọng một ngày nào đó, **chúng ta sẽ lại gặp nhau.**

Full Hồi ký Phạm Duy (Quyển 1 - 2)

  • Hồi ký Phạm Duy (Quyển 1 - 2) - Quyển 2 - Chương 22

Chương Hai Mươi Hai


Việt Bắc = U Tì Quốc


Một ngày lạnh cóng và ẩm ướt vì những giọt mưa cuối cùng của mùa Xuân, Ngọc Bích và tôi giã từ Hoàng Cầm và rừng núi Lạng Sơn, vác ba lô lên đường. Lúc này chúng tôi không còn là văn nghệ sĩ của Cục Chính Trị nữa. Sau vài ngày cuốc bộ, mầu tím đen dữ dội của núi rừng đã dần dần không còn đi theo để bưng mắt chúng tôi nữa. Chúng tôi đang đi trong khoảng trời cao mây rộng, rảo bước trên con đường đê dọc theo con sông đào quen thuộc vẫn đang trôi lờ lững trong vùng Nhã Nam, Yên Thế.


Tôi thản nhiên đi qua làng Lan Giới, lờ luôn người đẹp nông thôn. Rồi chúng tôi tới Bắc Ninh. Bây giờ thì tôi đi qua Sông Đuống để nhớ tới Hoàng Cầm... Và nhận ra được cô hàng xén răng đen, ông già phơ tóc trắng, thấy được cả những tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong. Nhưng không thấy được em bé sột soạt quần nâu... vì lúc này là chiến tranh. Buồn. Rồi từ Bắc Ninh, sau khi len lỏi qua những đồn địch đóng lẻ tẻ ở dọc đường số 1, chúng tôi rẽ sang Phúc Yên, Sơn Tây để xuống địa phận Hà Đông.


Vùng trung du lúc này vẫn còn an ninh vì Pháp không có đủ quân để chiếm đóng cả vùng thượng du lẫn vùng trung du hay vùng đồng bằng. Quân Pháp còn đang bận tâm ở chiến trường biên giới. Họ chỉ cho máy bay đi bắn phá những tỉnh nằm ngoài vòng đai lớn bao quanh thành phố Hà Nội, ở những nơi mà họ nghi ngờ là có kho đạn hoặc có Vệ Quốc Đoàn đóng quân.


Hình như cả Pháp lẫn Việt Minh đều muốn như vậy cho nên có một cái chợ trời rất lớn mọc lên ở làng Thịnh Đại, gần bến Đồng Quan thuộc tỉnh Hà Đông, chỉ cách vùng Quân Pháp chiếm đóng khoảng hai chục cây số. Chợ là nơi để Pháp tuôn hàng hóa Âu Mỹ ra vùng quê một cách dễ dàng và là nơi Việt Minh có thể mua những thứ cần thiết cho kháng chiến. Chợ trời này nằm ở ngay làng Đại cho nên nó mang luôn cái tên là Chợ Đại. Chợ trải dài từ làng Đại cho tới làng Thần, nơi đây có một cái cống lớn để dẫn nước sông vào ruộng - cho nên được gọi là Cống Thần - từ đầu chợ tới cuối chợ là khoảng 5 cây số.


Chợ Đại-Cống Thần này nằm dọc theo ven bờ của một nhánh sông thuộc dòng sông Đáy - Hát Giang là đây - rất tiện lợi cho những ai từ mạn Phúc Yên đi xuống hay từ dưới Ninh Bình, Phát Diệm đi lên bằng thuyền. Ở đây có khoảng không dưới một trăm túp lều gỗ hay lều tranh do khoảng một trăm gia đình, dân số trên dưới 500 người, từ Hà Nội tản cư ra chỗ này và cất thành một cái chợ ven sông. Khác hẳn với đa số thị dân khác, hoặc có cha mẹ hay anh chị em ở trong gia đình làm việc cho các cơ quan kháng chiến và đi theo đơn vị lên Việt Bắc, hoặc là thường dân tản mác đi khắp các vùng quê và cố gắng hội nhập vào đời sống cày bừa trồng trọt của nông thôn, những người dân Hà Nội tới lập nghiệp (!) ở Chợ Đại-Cống Thần này không dính líu gì tới đời sống sản xuất hay tham dự vào một tổ chức kháng chiến nào cả. Họ sống nhờ ở nghề buôn đi bán lại đồ cũ, đồ mới. Đặc biệt là những thứ hàng ngoại hóa. Một giới làm ăn mới mẻ được mệnh danh là bờ lờ (tức là buôn lậu) đã tạo ra ở đây một thị trường khá lớn để tuôn hàng hóa Âu Mỹ từ Hà Nội ra hậu phương.


- Họ đi buôn hàng ngoại hóa ở đâu vậy?


- Thưa ở vùng tề ạ.


Chỉ cần ra khỏi Cống Thần-Chợ Đại khoảng chừng 10 cây số là tới vùng tề tức là những làng bị lính Pháp tới bình định (pacifier) và bắt dân làng phải thành lập những hội tề để làm việc cho Pháp. Nhưng bất cứ một hội tề nào làm việc cho Pháp vào lúc ban ngày, vào ban đêm họ bắt buộc phải theo Việt Minh thì mới sống được. Vùng tề được coi như là vùng xôi đậu và là nơi đã tạo ra nhiều câu ca dao của thời đại, ví dụ:


Ấm ớ hội tề


Sáng đi buôn lậu


Tối về Tây đen...


Câu ca dao này muốn nói tới những chị đi buôn lậu ở vùng tề, ban ngày thì đi lấy hàng hóa từ Hà Nội để chuyên chở ra hậu phương nhưng tới ban đêm thường hay bị lính Phi Châu bắt vào đồn để làm tình. Có người từ hậu phương vào tề để mua hàng trở ra thì cũng có người hằng ngày mặc áo blouson Tây, có cài bút máy Tàu, tay đeo đồng hồ Thụy Sĩ, chân đi dép Nhật... đang sống ở vùng tề bây giờ đi ra Chợ Đại để bán hết những thứ hàng mang trên mình, rồi lại trở về vùng tề. Do đó có câu ca dao:


Ấm ớ hội tề


Khi đi có dép


Khi về chân không...


Còn có một câu ca dao khác dùng để phê bình những người ở vùng tề, không bao giờ có lập trường vững chãi:


Ấm ớ hội tề


Chính phủ gọi về


Ra chiều bất mãn...


Vùng tề còn là nơi có người chỉ đường dẫn lối cho những ai muốn dinh tê vào thành.


Chợ Đại-Cống Thần mọc lên rất nhanh và trở thành một nơi thu hút những người ở các vùng khác. Những thị dân đi tản cư cho tới lúc này đều nhớ vỉa hè và đều chán cảnh đồng quê hay rừng núi, nghe tin đồn về thiên đường Chợ Đại thì ai cũng tìm mọi cách để tới nơi này, sống trong ảo ảnh của cuộc đời phố xá trước đây. Như tôi chẳng hạn. Tại đây, các quán ăn mọc lên như nấm, có nhiều món ăn mà chúng tôi từng thòm thèm trong mấy năm. Ví dụ món phở. Món này ở Việt Bắc cũng có nhưng tôi nghi là phở ở trên đó được nấu với thịt trâu hơn là với thịt bò.


Tại Quán Thủy Tiên lại có thêm một món mà trong kháng chiến ai cũng thích là: hai quả trứng sống pha với đường rồi quậy lên thành một li thuốc bổ hạng nhất. Quán này có chơi nhạc, ban nhạc gồm anh “Cai Kèn” tên là Cách thổi saxo, Chương “Ve” kéo acordéon, Paul Trí chuyên đánh piano nhưng vì nay không có đàn nên phải đánh guitare. Tội nghiệp Paul Trí có bàn tay đang bị ghẻ nặng cho nên chỉ có thể dùng ba ngón tay để bấm những hợp âm.


Paul Tri, bên phải, trong ban nhac Xuân Tiên, Xuân Lôi


(Vùng kháng chiến, 1948)


Quán Café Lan đông khách vì cô chủ quán có người chị lấy kép Cải Lương Huỳnh Thái, người được toàn dân phong cho mĩ danh Huỳnh Thái, cây sái của Bắc Việt - sái đây là sái thuốc phiện - khách tới đây hi vọng được gặp kép hát nổi danh.


Lại còn một cái quán nữa - ở chợ Vân Đình cũng gần Chợ Đại - có cái tên là Sem Sem, hình như do Tạ Đình Đề làm chủ. Nếu đánh vần theo kiểu bình dân học vụ thì là: Sờ em xem. Tức là quán Sờ Em.


(Tạ Đình Đề, về già)


Chợ Đại-Cống Thần có những túp lều bán các thứ xa xỉ phẩm (!) như bút máy, đồng hồ, thuốc tây, vải kaki, áo blouson Mỹ, xà phòng thơm, bàn chải và thuốc đánh răng. Nhất là có thuốc lá thơm. Nói về thuốc lá thì ở các nơi khác, các tay nghiện thuốc chỉ được hút thứ thuốc sản xuất tại Việt Bắc mang nhãn hiệu Du kích và Bazooka. Bây giờ tại Chợ Đại Cống Thần này, họ đã có thể mua được những bao thuốc lá thượng hảo hạng như Cotab, Philip Morris, Camel... Nhất là mua được bật lửa, thứ bật lửa có bánh quay để quệt ra lửa - gọi là bật lửa cu lu xe - Có bật lửa rồi là thi nhau bật lửa xem ai có lửa, ai không có lửa? Những người không mua được dầu xăng xe hơi, không bật ra lửa nhanh được vì dùng dầu thắp đèn Hoa Kỳ, thua cuộc và phải khao những người có lửa nhanh một chầu bún riêu.


Chợ Đại-Cống Thần chỉ đông người từ xế chiều cho tới nửa khuya. Ít ai ra chợ vào ban ngày vì sợ máy bay Pháp tới bắn phá. Đêm đêm, với ánh sáng của hằng trăm ngọn nến hay đèn dầu, với tiếng người vui đùa trò chuyện, với tiếng đàn ca văng vẳng từ trong quán ăn hay từ trong khoang của những chiếc thuyền đang trôi trên sông Đáy hay đang chen nhau đậu tại các bến, khung cảnh Chợ Đại-Cống Thần giống như những đêm hội hoa đăng của thời bình. Sống ở đây, người ta có thể tạm quên được những cam go của kháng chiến. Từ Việt Bắc đi xuống, từ Thanh Hóa và ngay cả từ Nam Bộ đi ra, ai ai cũng phải ghé lại nơi chợ trời (tương đối) khổng lồ này.


Khi bước chân tới đây, tôi và Ngọc Bích gặp các văn nghệ sĩ đã đóng đô ở Chợ Đại từ lâu như thi sĩ Đinh Hùng, thi sĩ Huyền Kiêu, thi sĩ Lê Đại Thanh, nhạc sĩ Auguste Ngọc (người Pháp lai, đánh guitare rất giỏi), nhạc sĩ Canh Thân, nhạc sĩ Việt Lang (tên thật là Lê Quý Hiệp), họa sĩ Bùi Xuân Phái, họa sĩ Tạ Tỵ. Giống như Phạm Văn Đôn và Quang Phòng trước đây ở Việt Bắc, hai họa sĩ họ Bùi và họ Tạ này cũng đang tổ chức một phòng triển lãm tranh tại một trường học gần Chợ Đại. Đinh Hùng thì vẫn còn dáng dấp tiên ông như lúc Cách Mạng vừa mới thành công, cùng với Vũ Hoàng Chương, hai người ở tiệm hút mở cửa ra phố, trông thấy lá cờ đỏ sao vàng thì hỏi:


- Cờ nước nào thế kia?


Lúc này, tiên ông Đinh Hùng (hay Vũ Hoàng Chương?) thỉnh thoảng còn mặc một cái áo gấm đi chơi trong Chợ Đại, có một người xách làn mây đựng bàn đèn đi theo sau. Tiên ông mà cũng ra đi như thế này thì cả nước lên đường là đúng lắm.


Tôi cũng được gặp hai người bạn làm nghề xuất bản là Nguyễn Văn Hợi (nhà xuất bảnThế Giới) và Nguyễn An Nghi. Ít lâu sau hai người này sẽ về thành và ấn hành nhạc của tôi trong vùng tạm chiếm, nhờ đó mẹ tôi có được một số tiền tác giả khá lớn. Trần Thiếu Bảo, Giám Đốc nhà xuất bản Minh Đức thì đang tản cư ở đây và sẽ là người xuất bản cuốn Những Điệu Hát Bình Dân Việt Nam của tôi, trong đó tôi ghi âm lại một số những bài dân ca cổ truyền như Cò Lả, Trống Quân, Hò Huế vân vân...


Đây cũng là nơi mà một vài nhân vật nổi tiếng như luật sư Nguyễn Mạnh Tường, cựu tri huyện Trần Chánh Thành... thường hay ra chợ để sắm đồ hay để vào quán ăn. Các ông này đang phục vụ trong ngành Tư Pháp của Quân Khu III. Cũng thấy sự có mặt của Bác Sĩ Trần Hữu Tước, ông này ở Pháp cùng về nước với ông Hồ sau Hội Nghị Fontainebleau, vì không chịu được đời sống kham khổ ở Việt Bắc cho nên đã về sống ở đây.


Chợ Đại còn có những ổ tình báo của hai bên đối phương nữa. Tôi thấy nhân viên làm việc tình báo với Văn Cao ở Lào Kai như Ty “Rỗ”, bây giờ, cùng với những nhân vật mang nhiều huyền thoại như Tạ Đình Đề, Hãn “Trắng”, Viễn “Mập” tự “Kinh Bắc” (bố Khánh Ly), Học “Kirisitô” (vì trông giống Chúa Kitô), Hoành “Hổ” và Nguyễn Trần Huyên (sau lấy tên là Cao Dao)... trở thành nhân viên của một đội trưởng Biệt Động Đội thuộc Sở Tình Báo Ngoại Thành trong Ủy Ban Thành Phố Hà Nội tên là Chi Nam (anh này hiện ở Hawaii). Nhóm Biệt Động Đội này thường ra vào Hà Nội để hoặc lấy tin tức, hoặc làm công tác phá hoại, ám sát...


Pháp cũng gửi điệp viên ra Chợ Đại-Cống Thần để theo dõi sự chuyển quân của Việt-Minh. Về sau, ở ngay Chợ Đại này, anh nhạc sĩ Tây lai Auguste Ngọc bị thủ tiêu vì bị nghi ngờ là làm việc cho đơ bò (Deuxième Bureau) của Pháp. “Kinh Bắc”, người cha của Khánh Ly cũng mất tích luôn. Tôi gặp lại Hoành “Hổ” và Ty “Rỗ” ở Saigon, biết chắc chắn là họ không còn là người của “bên kia” nữa rồi. Còn Nguyễn Trần Huyên tức Cao Dao thì cho tới ngày 30 tháng 4 năm 1975, không biết anh ta có còn hoạt động cho Miền Bắc nữa không?


Chợ Đại cũng còn là nơi dưỡng sức của kháng chiến quân đi nghỉ mát bừa hay đi nghỉ phép - sự kiện này khiến cho tôi nhớ tới cái tên của một cuốn phim Pháp Le Repos Du Guerrier. Tại đây, ngoài những cán bộ quân sự hay chính trị hạng trung và hạng thấp, tôi còn gặp cả cán bộ gộc như Chu Văn Tấn từ Việt Bắc đi xuống và Trần Văn Giầu từ trong Nam đi ra. Những người lãnh đạo của Quân Khu III lúc đó là Hoàng Minh Thảo, Văn Tiến Dũng, cũng hay lảng vảng ra dưỡng sức ở Chợ Đại-Cống Thần. Một trong hai ông này còn cưỡi xe Vélo Solex chạy trên con đường ruộng dẫn tới chợ. Khi họ ra đi, dân chúng đang bu lại coi chiếc xe, thấy người cưỡi xe phải dùng chân đạp nhiều vòng để lấy đà cho máy nổ rồi mới ngưng đạp thì tưởng rằng xe này chạy bằng... dây cót.


Và không có ai tới Chợ Đại-Cống Thần mà không ghé tới Quán Thăng Long. Quán này là của ông bà Phạm Đình Phụng, rất đông khách vì chủ nhân là người rất văn nghệ. Các văn nghệ sĩ nổi danh đang ngụ cư ở Chợ Đại rất năng tới quán Thăng Long. Mà hễ ở đâu có văn nghệ sĩ là người ta đổ xô tới.


Mênh mông lả ơi


Thuyền về tới bến Mê rồi...


TIẾNG ĐÀN TÔI
 
Advertisement

Bình luận facebook

Bạn đã đọc chưa

Users who are viewing this thread

Back
Top Bottom